Ở MIỀN QUÊ KHẮC NGHIỆT NHẤT NƯỚC VẪN NẢY NỞ TÀI NĂNG

Tham luận của Họa sĩ - Nhà lý luận phê bình mỹ thuật NGuyễn Đức Hòa - Ủy viên HĐNT TW - Hội mỹ thuật Việt Nam.

(Phát biểu tại hội thảo mỹ thuật khu vực Bắc Miiền Trung lần thứ I - Huế, tháng 3 năm 2012).

 


   Có người từng ví hình thái đất nước ta như chiếc đòn gánh, gánh hai vựa lúa trĩu nặng ở hai đầu. Nhờ có hai vựa lúa trù phú ấy mà trong vòng 20 năm trở lại đây, Việt Nam trở thành quốc gia xuất khẩu gạo trong tốp 3 của thế giới với đôi khi vượt lên thứ nhất. Trong niềm tự hào ngập tràn hạnh phúc này, xin đừng ai quên chiếc đòn gánh khắc khổ nhưng cứng cáp, dẻo dai, bền bỉ suốt mấy nghìn năm nay. Nơi mà chúng tôi sắp nói đến dưới đây có thể ví như vị trí đòn gánh đặt lên vai, nơi dải đất dài và hẹp nhất nước: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị.

   Hễ đã là người Việt thì không ai không biết đến mảnh đất được coi là khó khăn nhất nước. Dù lịch sự đến mấy thì ta vẫn phải nhìn về nơi đây với ánh mắt đầy ái ngại. Không ái ngại sao được khi chúng ta đều biết vùng đất này không trù phú, ít tài nguyên khoáng sản, quanh năm vừa phải gồng mình chống chọi với bão tố đến từ biển Đông, lại phải héo hon với gió Lào đến từ Trường Sơn Tây. Khủng khiếp hơn nữa, nơi đây từng là bãi chiến trường hầu như suốt chiều dài lịch sử dân tộc, là nơi giành đi giật lại giữa các thế lực đối lập: bắt đầu giữa đế chế Trung Hoa với nước Lâm Ấp non trẻ cách đây 19 thế kỷ, rồi lại triền miên giữa nước Đại Việt với Chiêm Thành, giữa hai thế lực Trịnh và Nguyễn phân tranh suốt 200 năm và cuối cùng là cuộc chiến tàn khốc kéo dài 21 năm khi đất nước phải tạm thời chia cắt giữa hai miền Nam – Bắc. Chỉ từ sau năm 1975, nơi đây mới thật sự có hoà bình và hạnh phúc, dẫu vẫn còn đó những gian nan do thiên nhiên không ưu đãi.

   Mặc dầu vậy, đây lại là huyết mạch giao thông của cả nước, và dân tộc vốn ngàn đời quen làm nhà nông chúng ta quyết không bao giờ để “giữa đường đứt gánh”. Chính quyền và các đoàn thể cũng như chính những người con của 3 tỉnh đã và đang dành nhiều ưu tiên, quyết tâm khắc phục khó khăn cho vùng đất tối quan trọng này. Trong những cố gắng ấy, có sự góp phần tuy nhỏ nhưng rất hấp dẫn của mỹ thuật. Chúng tôi muốn nói đến những nỗ lực của Hội Mỹ thuật Việt Nam cùng sự hưởng ứng nhiệt thành của các hội viên cả nước trong suốt 19 năm qua với các Triển lãm Mỹ thuật 8 Khu vực và Triển lãm Giải thưởng hàng năm của Hội Mỹ thuật Việt Nam. Đương nhiên những khu vực được coi là “chốn phồn hoa đô hội”, tập trung nhiều tài năng như thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Thừa Thiên Huế đã và đang là những địa phương đóng góp nhiều nhất cho thành công chung của mỹ thuật cả nước. Căn cứ theo tỷ lệ hội viên, chúng tôi những tưởng ở miền xa vắng nhất, khó khăn nhất sẽ hiếm có mỹ thuật nhất. Vậy mà thật đặc biệt, anh em hoạ sĩ và điêu khắc các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị với nhân sự ít ỏi mà vẫn có những đóng góp đáng kể cho thành tích mỹ thuật chung, thậm chí có một vài tác phẩm còn vươn lên tầm cao với sắc thái đặc sắc của địa phương mình. Chính thành tích của các anh em trong nghề ở 3 tỉnh nói trên khiến chúng tôi phải để tâm tới những so sánh lạ kỳ cả về số lượng lẫn chất lượng giữa 3 tỉnh và các vùng miền khác như sau:

1/ Sự chênh lệch một trời một vực về số lượng hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam.

Nếu tổng số hội viên mỹ thuật trung ương trong cả nước hiện nay là hơn 1600 người thì có tới khoảng 900 hội viên đang sinh hoạt tại thủ đô Hà Nội – một tỷ lệ quá chênh lệch nhưng không khó hiểu khi đó là trung tâm chính trị và văn hoá của quốc gia. Toàn khu vực Bắc miền Trung có tổng số 85 hội viên thì trung tâm nghệ thuật Thừa Thiên – Huế có tới 43 người, tỉnh Thanh Hoá cũng có 16, còn Nghệ An là 12. Như vậy chỉ còn lại dải đất hẹp ngang 50 km nhưng dài tới 300 km với 14 hội viên, trong đó Hà Tĩnh 4, Quảng Bình 5 và Quảng Trị 5, thật là thưa vắng ! Vì những lý do kể trên, chúng tôi xin phép không nói tới các tỉnh đông hội viên trong khu vực, những nơi giàu tiềm năng hơn và đã đóng góp nhiều thành tích hơn cho thành công chung của mỹ thuật cả nước. Chúng tôi cũng xin không nói tới những tác giả quê ở 3 tỉnh nói trên nhưng đã chuyển đi sinh sống ở nơi khác. Xin phép chỉ luận bàn đến 3 tỉnh thưa vắng hội viên này.

2/ Nhưng giải thưởng mỹ thuật của 3 tỉnh vẫn nhiều và đa dạng.

   Chỉ có 14 hội viên mỹ thuật trung ương, trong đó 4 người mới được kết nạp trong 2 năm gần đây nên thực chất bấy lâu nay đó là cuộc phấn đấu của 10 người. Với tình yêu nghệ thuật thiết tha và sự miệt mài thể hiện tác phẩm, họ vẫn gặt hái được khá nhiều giải thưởng. Tổng số chắc chưa bằng các khu vực khác, nhưng nếu chia tỷ lệ ra thì bình quân giải thưởng khá cao. Anh em mỹ thuật 3 tỉnh đã giành được 33 trên tổng số 115 Giải thưởng hàng năm của Hội Mỹ thuật trung ương và khu vực Bắc miền Trung, trong đó có 1/4 giải Khuyến khích (thời kỳ từ 1993 đến 1995) dành cho tranh sơn mài “Bến Hồng Gai” của Trịnh Hoàng Tân năm 1995, 1/7 giải thưởng Hội Mỹ thuật trung ương (thời kỳ từ 1996 đến 2011) dành cho điêu khắc sắt hàn “Trái tim của biển” của Phan Đình Tiến, 1/4 giải A khu vực dành cho điêu khắc gỗ và sắt “Hồi sinh” của Lê Ngọc Thái, 6/16 giải B khu vực dành cho tranh, tượng của các tác giả Hồ Uông, Trịnh Hoàng Tân, Phan Đình Tiến, Thế Hà, Lê Anh Ngọc, 7/23 giải C khu vực dành cho tranh tượng của các tác giả Trịnh Hoàng Tân, Lê Anh Tuấn, Trương Minh Dự, 17/61 giải Tặng thưởng khu vực dành cho tranh, tượng của các tác giả Hồ Uông, Phan Đình Tiến, Đoàn Văn Thịnh, Thế Hà, Lê Ngọc Thái, Trịnh Hoàng Tân.

   Đáng kể hơn nữa, từng có 03 tác giả vươn tới Giải Khuyến khích của Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc, trong đó có 02 người cùng năm 2005 là Trịnh Hoàng Tân với “Hội cù năm Dậu”, sơn mài và Phan Đình Tiến với “Biển cả”, tượng inox-gang-sơn mài, người thứ ba là Lê Ngọc Thái năm 2010 với “Hiệu ứng kính”, điêu khắc tổng hợp. Cao hơn một bậc có 1 tác giả từng đoạt Huy chương Đồng của Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1985 cho tượng gỗ “Cộng sản trong bụng tôi” và Huy chương Bạc của Triển lãm Điêu khắc toàn quốc 1993 cho tượng gỗ “Một cha 2 con” là nhà điêu khắc quá cố Hồ Uông người dân tộc Vân Kiều. Tất nhiên đấy là chúng tôi vẫn còn chưa dám thống kê thêm các giải thưởng của anh em ở những lĩnh vực mà mình chưa thật am hiểu như Triển lãm Mỹ thuật quân đội, Giải thưởng Văn học Nghệ thuật cấp tỉnh, Giải thưởng tranh Cổ động, Giải thưởng Thiết kế Mỹ thuật sân khấu.v.v…

   Tuy nhiên, như các cụ ta từng nói: “Quý hồ tinh, bất quý hồ đa”, nghệ thuật cốt ở chất lượng đỉnh cao chứ không ỷ vào số đông bao giờ - và đó cũng là điều mà chúng tôi muốn đi sâu vào phân tích về một số tranh tượng xuất sắc nhất của một số tác giả đáng chú ý nhất của 3 tỉnh xa vắng này.

3/ Điều đáng kể và đáng nể nhất vẫn luôn là chất lượng mỹ thuật chuyên nghiệp.

   Nói cách khác, chất lượng đỉnh cao lúc nào cũng là ước mơ phấn đấu của tất cả mọi hoạ sĩ và nhà điêu khắc. Đến đây, chúng tôi lại phải xin mạn phép trích dẫn một câu ví khác của cổ nhân: “Đã mang lấy nghiệp vào thân, xin đừng trách lẫn trời gần, trời xa” để nhấn mạnh rằng: tinh thần phấn đấu của anh em hoạ sĩ 3 tỉnh thật đáng trân trọng, số giải thưởng mà anh em giành được thật đáng khích lệ, vùng đất mà thiên nhiên khắc nghiệt như thế, chiến tranh tàn phá như thế mà nay anh em - chỉ có 14 người - vẫn đạt kết quả nghệ thuật đến thế thì thật đáng kính nể. Tuy vậy, tất cả những lời hay, ý đẹp kể trên vẫn có thể chẳng có nhiều giá trị nếu tác phẩm của chính anh em không vươn tới được đỉnh cao nghệ thuật…

   Đến đây, thật đáng tự hào, với sự theo dõi bấy lâu nay, chúng tôi tin rằng ở dải đất nghèo xa vắng này vẫn nảy nở tới 4 tài năng không những đặc sắc mà còn mang đậm cá tính sáng tạo cũng như nét duyên riêng của một miền quê khó lẫn với các vùng miền khác.

   Người mà chúng tôi muốn nhắc đến trước hết, lại sớm từ giã chúng ta đã 10 năm nay là cố nghệ sĩ điêu khắc Hồ Uông. Ông là người Vân Kiều ở miền tây Quảng Trị nhưng từng được đào tạo chuyên nghiệp tại Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội. Bản sắc dân tộc cộng với kỹ thuật bài bản của ông đã thành tựu nên những tác phẩm lạ kỳ tới mức khó quên: bao giờ cũng là những cột tượng gỗ chồng chất những người đang vui-buồn-giận dữ, bày tỏ tình cảm bộc trực nguyên sơ, có thể đưa khán giả vào các cung bậc cảm xúc từ yêu thương đến ngạc nhiên, sợ hãi hay khâm phục. Người Vân Kiều vốn nổi tiếng một lòng theo cách mạng nên ông đã lựa chọn những chủ đề như “Cộng sản trong bụng tôi” hay “ Đến với chữ nội Hồ”. Nhưng sự thuyết phục bởi điêu khắc của ông chính là chất lượng tạo hình. Những khối gỗ thô mộc chất chồng nối tiếp lên cao của ông rất đặc trưng miền núi Trường Sơn. Những kiểu dáng dân tộc của ông được kết hợp cô đọng đến bất ngờ. Những khối nổi căng, lõm sâu hay vặn vẹo của ông hằn rõ những nhát đục đầy biểu cảm và ẩn chứa cái duyên giản dị mà sâu lắng như đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ thuở nào. Thủ pháp nghệ thuật của ông không phải là dạng gọt giũa tinh khéo mà thô sơ, hồn hậu, đôi khi đạt đến cái thần đầy ấn tượng. Cho đến nay, sau 27 năm mà chúng tôi vẫn thấy rùng mình trước nỗi ám ảnh cháy bỏng mà pho tượng đoạt Huy chương Đồng tại Triển lãm MTTQ 1985 “Cộng sản trong bụng tôi” mang lại cho khán giả: hình tượng của ông đang gào thét mà cũng là thổ lộ tâm can tột cùng với niềm tin chân thành đến quyết liệt. Chắc chắn ông xứng đáng với những giải thưởng đỉnh cao đã giành được. Tiếc thay, khi con đường sáng tạo đang vào độ định hình và tài đang chín thì ông đột ngột từ giã chúng ta, từ giã cái thế giới linh thiêng và tràn ngập tình cảm nguyên sơ giản dị nhất mà cũng sâu lắng nhất của một người miền núi.

   Người thứ hai mà chúng tôi muốn bình luận là hoạ sĩ Trịnh Hoàng Tân. Anh cũng là hoạ sĩ Quảng Trị và kém ông Hồ Uông đến 18 tuổi nhưng sớm nổi danh trong số các hội viên mỹ thuật nước ta. Tranh của anh liên tiếp đoạt đến 13 giải thưởng các loại trong vòng 15 năm trở lại đây. Một thành tích hết sức đáng nể ! Trong số đó chỉ có bức tranh khởi đầu với giải C Khu vực IV là vẽ bằng bột màu, tất cả số còn lại đều là sơn mài, mà đều là cỡ khá lớn: 100x160cm, 110x155cm và đa số là 120x180cm. Bảng giải thưởng của Trịnh Hoàng Tân dài dằng dặc và nói thật là xem chóng cả mặt , gồm có 5 Tặng thưởng Khu vực IV (các năm 2001, 2002, 2005, 2006 và 2010), 5 Giải C Khu vực IV (các năm 1996, 1998, 2000, 2008, và 2009), 2 Giải B Khu vực IV (các năm 2004 và 2007) và đỉnh cao của anh là bức tranh sơn mài cỡ lớn 120x180cm “Hội cù năm Dậu”, đoạt giải Khuyến khích Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc năm 2005. Xem tranh của Trịnh Hoàng Tân, chúng ta thấy ngay một niềm hân hoan bất tận với Niềm vui ngày mùa, Hội làng tháng giêng, Bừng sáng vùng cao hay Hội cù năm Dậu. Thực ra, anh cũng có đôi khi sâu lắng với các bức Thả hoa tưởng niệm hay Lòng đất tồn sinh nhưng tựu trung lại, tất cả tranh anh vẫn là tổng phổ của bản hoan ca tưng bừng, náo nhiệt, nhịp nhàng với đông nhân vật đang hò reo bất tuyệt mừng quê hương giải phóng, từ nay vĩnh viễn hết chiến tranh và chia cắt. Ngắm tranh anh, chúng ta thấy một miền quê đã giã từ đau thương và đói nghèo để đổi đời trù phú. Tranh của anh vui và khoẻ khoắn. Thế mạnh tạo hình của anh là sự biến hoá của các mảng miếng, sự nhảy múa giữa hình và nền, sự chao lượn giữa các dáng đứng-ngồi-ôm-xiết, sự say đắm giữa những đợt sóng người đang vui ngả nghiêng đất trời. Thành công của anh còn vì cách tạo hình cho cả nền tranh. Bình thường thì đa số hoạ sĩ sẽ vẽ nhân vật là nhân vật, còn nền là nền, nhưng anh đã biến nền thành nhân vật – nền của tranh anh cũng được tạo hình, tạo mảng, cũng nhảy múa, cũng thay đổi đậm nhạt và biến hoá tưng bừng bên cạnh nhân vật. Những mảng nền ấy thoắt đỏ, thoắt đen, thoắt vàng rực mà cũng thoắt trắng rạn bởi những miếng vỏ trứng. Nghe qua thì thấy cũng vui và đẹp, nhưng không phải ai cũng làm được như anh; có khá nhiều người thử làm tranh đông mà không vui, tưởng náo nhiệt mà nát vụn. Cái tài của anh là biến hoá mọi thành phần nhưng vẫn chủ động tổng thể, căn mảng đầy tính toán mà vẫn điều khiển được nhịp điệu vui say… Dù đã khá nhiều thành công nhưng mỹ thuật của anh vẫn chưa thực sự lên tới tuyệt đỉnh mà con đường vẫn đang trải rộng trước mắt. Nội lực còn mạnh, tuổi chưa già, tình còn say, chúng tôi chúc anh thành công với đỉnh cao hơn nữa.

   Người thứ ba mà chúng tôi phải nói đến với tình cảm trân trọng là nhà điêu khắc Quảng Bình Phan Đình Tiến. Anh đã làm cho chúng tôi - trong quá trình theo dõi – đã bị hết bất ngờ này đến bất ngờ khác bởi tính quyết đoán tới mức quyết liệt và bởi những hiệu quả tạo hình của anh đang theo kịp và hoà nhịp không chỉ với những dòng chảy nghệ thuật đương đại mà còn bởi thái độ và trách nhiệm công dân thể hiện một cách độc đáo qua tác phẩm. Chỉ 17 năm sau ngày ra trường, anh đã có một bảng thành tích phong phú với 01 Giải Khuyến khích ở triển lãm MTTQ năm 2005 – tác phẩm điêu khắc phối hợp đa chất liệu mang tên “Biển cả”, 01 Giải Chính thức của Hội Mỹ thuật VN năm 2011 với tác phẩm điêu khắc sắt hàn mang tên “Trái tim biển cả”, 01 giải B và 03 giải Tặng thưởng Khu vực IV các năm 1997, 2001, 2005, 2010. Tiến còn là tác giả của 08 tượng đài, tượng vườn và tượng làm tại các trại sáng tác điêu khắc ở khắp các tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên – Huế, thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Đà Lạt, Nha Trang, Phan Rang-Tháp Chàm. Nếu tượng inox có tên “Nhân bản” được giải Tặng thưởng Khu vực IV năm 2001 của anh chỉ cao có 60cm thì tượng đài “Mẹ Suốt” của anh cao tới 09m. Chất liệu điêu khắc của anh đa dạng, từ đất nung, đá, xi măng, gỗ, sắt hàn đến phối hợp inox-gang-gỗ phủ sơn ta, đấy là còn chưa kể tới các chất liệu phụ trợ như chiếu cói, dây thép, dây nylon… Điều đáng chú ý là anh dần dần bỏ qua các chất liệu truyền thống như gỗ, đá, đất nung… để hướng tới các chất liệu hiện đại - phi truyền thống và phối thuộc lại một cách độc đáo trong kết cấu chung duy lý nhằm làm nổi bật ý tưởng về môi trường, thời sự hay chính trị. Điêu khắc của Tiến không phải loại hiện thực hay lãng mạn, anh không quen né tránh mà luôn trực diện hướng tới những biểu cảm mạnh mẽ, khốc liệt nhưng kiệm lời như tính cách cá nhân, cũng là tính cách chung của những người dân quê anh đã ngàn đời chiến đấu với biển cả, bão tố, gió Lào, cát trắng và vô số giặc giã. Trong vai khán giả, chúng tôi như chết lặng trước cái lưỡi câu đồ sộ, đẹp sáng loáng và chết chóc xuyên qua 3 con cá mảnh mai đang rướn thở những hơi thở cuối cùng trong tác phẩm “Biển cả” của anh năm 2005. Chúng tôi rờn rợn ngắm nghía tượng sắt hàn mang tên “Năng lực đối thoại” năm 2010 với chiếc thùng phuy rỗng, trổ thủng ziczắc hai bên để ngỏng lên hai đầu móc cần cẩu oái oăm, nặng nề, kỳ quặc và dằn vặt. Anh đang sử dụng phương thức của trường phái nghệ thuật phối thuộc đồ vật có sẵn Ready-made theo thể cách của riêng mình. Chúng tôi thực sự sửng sốt trước năng lực tạo hình của anh ở tác phẩm “Trái tim của biển” mà lúc đầu vốn xuất phát chỉ từ những uẩn ức riêng tư nghiệt ngã mà anh thích ví von với biển bởi biển mênh mông nhưng vẫn có bến bờ, rằng biển vẫn có thể bị chia cắt và cũng có thể “khâu vá lại”, dẫu đau đớn vô cùng. Sau đó, trong quá trình sáng tạo, tác phẩm ấy trở nên lớn vượt tầm, đa diện hoá với đa tầng ngữ nghĩa. Vào thời điểm ra đời, pho điêu khắc sắt hàn này hợp thời cuộc tới mức trong Hội đồng nghệ thuật có người thốt lên rằng tại sao không đặt tên là “Trái tim biển Đông” bởi nó được sáng tác chỉ ít lâu sau khi cường quốc phương Bắc ngang ngược gây ra những căng thẳng với chúng ta do những tranh chấp về lãnh hải, thềm lục địa, ngư trường, nguồn dầu mỏ, đường giao thông trên biển và không gian sinh tồn của các dân tộc ven bờ. Tuy nhiên, tên “Trái tim của biển” dường như vẫn là hay nhất bởi ý tưởng của tác giả còn sâu xa hơn, bao trùm hơn chứ không chỉ nhằm vào một lát cắt thời sự đơn lẻ nhất thời. Kết cấu chính của tượng là một thùng phuy đen (lại thùng phuy !) bị rạch nát rồi khâu vá lại bằng nhiều đoạn dây nylon xanh-đỏ, bên trên thòi ra những đường ống khai thác dầu lạnh lùng và tàn bạo, tất cả đặt trên đôi chiếu đơn ghép vuông thô tháp và tạm bợ một cách cố tình. Tác giả đã khai thác một cách hiệu quả những đối lập giữa khối đặc và không gian rỗng, giữa vẻ căng phồng của thùng và ống với manh chiếu cũ dẹp lép quăn queo, giữa sắc đen tối tăm cặn dầu với màu dây xanh đỏ rực rỡ nhưng nhức nhối... Qua đó, những khán giả am tường nghệ thuật có thể thấy thái độ công dân của anh được phát biểu mạnh mẽ, đầy trách nhiệm mà cũng rất nghệ thuật trong cách biểu cảm đương đại hàm súc…. Nhìn thấy năng lượng dồi dào và sáng tạo độc đáo, mang hơi thở của thời đại ở anh, chúng tôi tràn đầy hy vọng anh còn đi xa.

   Người thứ tư, cũng là tác giả cuối cùng chúng tôi bình luận hôm nay là nhà điêu khắc trẻ, cũng ở tỉnh Quảng Bình: Lê Ngọc Thái. Sinh năm 1972, Thái tốt nghiệp Đại học nghệ thuật Huế năm 2001, trở thành hội viên năm 2007. Thành tích mỹ thuật của Thái chưa nhiều nhưng lại vượt lên rất nhanh. Đáng chú ý có Giải A Khu vực IV năm 2009 với điêu khắc phối hợp sắt-gỗ mang tên “Hồi sinh”. Đó là một khúc cây sơn đen, dựng chéo, phía đầu vươn toả những “cành” sắt đỏ nở ra những “hoa quả” đỏ cũng bằng sắt và giữa thân thò ra vài chùm “rễ” sắt đỏ quấn quít cắm xuống mặt bệ sơn đen bên dưới. Tác phẩm không chủ định tạo dáng mà chỉ lạ hoá nhằm mang thông điệp chứ không tả kể. Chúng tôi không dám chắc đã hiểu đủ về tác phẩm này nhưng có thể cảm thấy sự hồi sinh vươn lên đớn đau như máu ứa… Chỉ một năm sau đó, tại triển lãm MTTQ 2010, Thái đã đoạt giải Khuyến khích với tác phẩm điêu khắc tổng hợp mang tên “Hiệu ứng kính”. Đây là một tác phẩm mang đậm dấu ấn môi trường toàn cầu khi cả nhân loại đứng trước thảm hoạ có tên hiệu ứng nhà kính với hàng loạt mối đe doạ như khí hậu nóng lên, băng tan ở hai cực trái đất, nước biển dâng sẽ ngập chìm đồng bằng Nam Bộ, tầng ozon bị thủng để lọt nhiều tia cực tím.v.v… Bên trong bộ khung gỗ lập phương, mỗi chiều 1m, lắp mika 4 mặt bên, có treo túm tụm nhiều tấm nhựa phế thải từ mang yếm ốp xe máy được sơn đỏ, cắt trổ phức tạp vặn vẹo, tượng hình mọi sinh vật đang giãy giụa tuyệt vọng trong khi bị nướng chín ! Cách tạo hình thông minh đã tạo nên hiệu quả rùng rợn với tín hiệu cảnh báo ! Thái có chủ ý biểu hình rất lạ, gần với phương Tây hơn là những thể tạng nghệ thuật trong nước. Chúng tôi coi đây là một triển vọng của tương lai gần. Chúc anh tiếp tục thành công hơn nữa.

4/ Kết luận về những nỗ lực của cả hai phía – nhà nước và nghệ sĩ.

   Chúng tôi biết có vài tỉnh khác trù phú hơn 3 tỉnh trên đây nhưng số lượng hội viên rất khó phát triển và lượng tác phẩm tham gia Giải thưởng Khu vực hàng năm rất thưa vắng. Có lẽ ở đó thiếu cả tình yêu nghề lẫn những nỗ lực của các nghệ sĩ. Ngược lại, ở nơi khó khăn nhất lại dường như tình yêu nghệ thuật trở nên mãnh liệt nhất. Một điểm đáng chú ý khác: chính vì 3 tỉnh từng là nơi đầu sóng, ngọn gió trong lịch sử nên chính quyền có truyền thống chăm lo sát sao nhiều mặt, kể cả văn hoá nghệ thuật cũng được coi là một “mặt trận”, đồng thời bản thân những người làm văn nghệ ở vùng đất khắc nghiệt nhất nước cũng ý thức được sứ mệnh văn hoá của mình, đây chính là cơ sở để nghệ thuật tồn tại và được coi trọng, dẫu chưa hẳn đầy đủ. Trước đây, ở thời bao cấp, triển lãm mỹ thuật cỡ nhỏ thường rất hiếm và lèo tèo, còn triển lãm mỹ thuật đúng nghĩa thường phải đợi rất lâu và phải ra tận thủ đô mới thấy. Tất nhiên, với anh em vùng sâu vùng xa thì đó là một sự xa xỉ. May thay kể từ năm 1993 đã xuất hiện Triển lãm Giải thưởng hàng năm của Hội Mỹ thuật Việt Nam, đặc biệt là từ năm 1996 đã ra đời các Triển lãm Khu vực, trong đó có Khu vực IV của Bắc miền Trung, khiến cho mọi anh em trong nghề có thể phấn đấu thường xuyên và tận mắt ngắm nghía thành quả của mình và đồng nghiệp được luân phiên hàng năm bày ngay tại 6 tỉnh quê hương. Cách làm này là một sáng kiến đầy hiệu quả khiến cho mỹ thuật đạt được hai mục đích cơ bản cùng một lúc: phong trào phát triển về bề rộng và chất lượng chuyên môn vươn tới đỉnh cao. Cả hai lại có quan hệ qua lại rất logic: nhờ có đáy rộng mà đỉnh mới cao. Chính là dựa trên cơ sở của sự phát triển kỳ diệu đó, hôm nay chúng tôi mới có điều kiện và cảm hứng để cao hứng luận bàn về mỹ thuật cùng đông đảo các bạn nghề có mặt tại đây. Xin trân trọng cảm ơn.

                                                                                                   Tháng 3/2012.

                                                                                                    Đức Hoà

  

  

LIÊN KẾT WEBSITE
Lên đầu trang
Xuống cuối trang

VỀ TRANG CHỦ